Đặt vé tại Sài Gòn 0934 476 522
Liên hệ đặt vé tại Hà Nội 0466 862 620
Liên hệ đặt vé toàn quốc 0979 765 119

Danh sách các bảo vật quốc gia của Việt Nam

 
Dưới đây là danh sách các bảo vật quốc gia của Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký quyết định công nhận đợt 1.
Trống đồng Ngọc Lũ
Trống đồng Ngọc Lũ: đường kính mặt 79,3 cm, đường kính chân 80 cm, cao 63 cm, niên đại cách ngày nay khoảng 2.500-2.000 năm. Trống có kích thước lớn, gồm các phần: mặt, tang, thân và chân trống. Giữa mặt trống đúc nổi ngôi sao 14 cánh, từ tâm ra có 16 vành hoa văn; tang trống phình trang trí hoa văn hình thuyền, người, chim; thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi. Đây là loại trống to nhất, có hoa văn phong phú và điển hình nhất trong hệ thống trống đồng Việt Nam, là hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn.
 
Trống đồng Hoàng Hạ
Trống đồng Hoàng Hạ: được phát hiện tháng 3/1937 tại thôn Nội, xã Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Trống có đường kính mặt 79 cm, cao 61,5 cm; tâm trống là hình mặt trời 16 tia với a vành hoa văn hiện thực; tang trống có 6 hình thuyền với hình người hóa trang ngồi trên thuyền; lưng trống trang trí các khung hoa văn hình người múa; chân trống không có hoa văn. Trống có đôi quai kép trang trí vặn thừng tết giữa tang và lưng trống. Đây là chiếc trống được xếp vào nhóm trống lớn nhất trong trống Đông Sơn, tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn.
 
Thạp đồng Đào Thịnh
Thạp đồng Đào Thịnh, một trong những đồ đựng của cư dân Đông Sơn, còn được dùng trong nghi lễ tôn giáo, mai táng, là di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn. Thạp đồng Đào Thịnh được phát hiện vào năm 1961 tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên (tỉnh Yên Bái).
 
Tượng đồng hai người cõng nhau thổi khèn (thời Đông Sơn)
Tượng đồng hai người cõng nhau thổi khèn: là bức tượng đồng thời văn hóa Đông Sơn. Tượng miêu tả hai người đầu chít khăn, y phục giản đơn; khuyên tai nổi rõ; mắt và miệng được diễn tả đến từng chi tiết nhỏ. Người cõng dáng khom đang nhún nhảy đôi chân theo tiếng khèn, hai tay ôm vòng lấy người ngồi trên lưng. Người được cõng ngồi vững chãi trên lưng đang say sưa thổi khèn. Cả nhạc công và vũ công như hòa nhập thành một thực thể thống nhất ăn ý, hài hòa. Bức tượng này được đánh giá là sinh động nhất trong những khối tượng đã được phát hiện từ xưa đến nay.
 
Cây đèn đồng hình người quỳ (thời Đông Sơn)
Cây đèn đồng hình người quỳ: được tìm thấy năm 1935, trong một ngôi mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa). Đèn cao 40 cm, dài 30 cm, rộng 27 cm, nặng 1,9 kg, là một hiện vật độc bản, đại diện cho nghệ thuật cổ tiêu biểu, độc đáo vào cuối thời kỳ văn hóa Đông Sơn, có sự giao lưu với văn hóa Hán. Cây đèn thể hiện kỹ thuật đúc tài giỏi, khéo léo và phản ánh cảm quan về vũ trụ của cư dân cổ giai đoạn này.
Trống đồng Cảnh Thịnh (thời Tây Sơn)
Trống đồng Cảnh Thịnh: được đúc bằng phương pháp khuôn sáp mô phỏng theo kiểu trống bịt da hiện đại, là di vật quý hiếm của triều đại Quang Trung (thời đại Tây Sơn 1789-1802), được đúc vào tháng 4 năm thứ 8 niên hiệu Cảnh Thịnh đời Nguyễn Quang Toản (1800). Thân và chân trống liền nhau trang trí nhiều loại hoa văn. Hoa văn trên thân trống chia thành 3 đoạn. Mặt và tang trống liền nhau ở giữa có 2 vòng tròn, xung quanh là mặt phẳng, không có hoa văn trang trí. Trống còn có giá trị đặc biệt ở phần tư liệu, với một bài minh dài 272 chữ được khắc trên thân trống.
 
Môn Hạ Sảnh ấn
Ấn đồng “Môn Hạ Sảnh ấn” (Thời Trần): Được coi là ấn đồng cổ có niên đại rõ ràng nhất. Ấn bằng đồng, núm được làm theo hình bia đá, cao 8 cm. Phần đế ấn là 7,3 cm, núm cầm trên rộng 3,7 cm và dày 1,2 cm. Mặt dấu hình vuông khắc 4 chữ Triện. Ấn được đúc năm Long khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377) và được dùng đóng trên những văn bản hành chính quan trọng từ thời Trần Phế Đế về sau.
 
 
Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga (thời Lê sơ)
Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga (Thời Lê sơ): Kiệt tác bình gốm hoa lam vẽ thiên nga tìm thấy trên con tàu đắm ở Cù Lao Chàm được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao. Bình có kiểu dáng lạ, những hình ảnh trang trí mang yếu tố thuần Việt. Men trên bình gốm là loại men Lam Hồi, có màu xanh mực Cửu Long, được nghệ nhân sử dụng phổ biến cho lối vẽ công bút.
 
Cuốn "Đường Kách mệnh" (tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Cuốn “Đường Kách mệnh”, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: xuất bản năm 1927, gồm 70 trang in. Với lối viết mộc mạc, cuốn sách của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ( tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó ) giới thiệu tổng quan về khái niệm cách mạng; lịch sử cách mạng Mỹ, Pháp, Nga và có ảnh hưởng thế nào tới cách mạng Việt Nam; Quốc tế cộng sản hình thành và phát triển như thế nào; các tổ chức cách mạng trên thế giới; Phụ nữ quốc tế; công nhân quốc tế; Cộng sản thanh niên quốc tế, Quốc tế giúp đỡ, Quốc tế cứu đỏ; cách tổ chức công hội; tổ chức dân cày; Hợp tác xã.
 
Tác phẩm "Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù)"
Bản thảo "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"
Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh) do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn ngày 19/12/1946, tại nhà ông Nguyễn Văn Dương, làng Vạn Phúc, Hà Đông (Hà Nội). Bản thảo được viết trên hai trang giấy một mặt, kích thước 13,5 cm x 20,5 cm.
 
Bản thảo "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước"
Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tượng Phật Đồng Dương (Văn hóa Chăm Pa)
Tượng Nữ Thần Devi (Hương Quế)
Tượng Thần Vishnu (Văn hóa Óc Eo)
Tượng Phật Lợi Mỹ (Văn hóa Óc Eo)
Tượng Thần Surya (Văn hóa Óc Eo)
Tượng Bồ tát Tara (Văn hóa Chăm Pa)
Tượng Bồ tát Tara: là tượng đồng lớn nhất của nghệ thuật Chăm. Tượng cao 1,14 m, niên đại cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10, được phát hiện vào năm 1978 ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tượng được khắc họa trong tư thế đứng thẳng, hai tay đưa ra phía trước với những đường nét chạm khắc tinh tế thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật truyền thống Chămpa.
 
Đài thờ Mỹ Sơn E (Văn hóa Chăm Pa)
Đài thờ Mỹ Sơn E1 được tìm thấy ở tháp E1 thuộc Khu di tích Mỹ Sơn, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam); có niên đại từ thế kỷ VII – VIII, được làm bằng sa thạch màu vàng nhạt và được lắp ghép từ nhiều khuôn hình, phản ánh đời sống của các tu sĩ Bàlamôn Giá trị của đài thờ là ở sự điêu khắc, chạm nổi trên khuôn hình. Nó đại diện cho phong cách mở đầu của điêu khắc Chămpa.
 
Đài thờ Trà Kiệu (Văn hóa Chăm Pa)
Đài thờ Trà Kiệu: được phát hiện ở tháp chính kinh đô Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên (tỉnh Quảng Nam) vào năm 1918, là một kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc Chăm Pa có niên đại từ thế kỷ VII – X. Đài được làm bằng sa thạch, cao 176 cm, gồm hai phần: phần trên là bộ Linga – Yoni, phần dưới gồm một thớt tròn và một khối hình vuông. Bốn mặt của Đài thờ khắc họa những cảnh trong trường ca Ramayana. Tuy nhiên cách trang trí những bầu vú liên tục chung quanh đài thờ gây ấn tượng về một phong cách chứa đựng nhiều yếu tố mang đậm nét riêng của người Chăm.
Tượng Phật A Di Đà (thời Lý)
Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay (thời Lê Trung Hưng)
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng được tạc năm 1656. Tượng cao 3,7 m, ngang 2,1 m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 200 cm. Tượng có 11 đầu, 42 tay lớn và 952 tay dài ngắn khác nhau. Tính từ đài sen lên, tượng cao 235 cm. Đầu rồng đội tòa sen cao 30 cm, bệ tượng cao 54 cm. Đây được coi là một kiệt tác "độc nhất, vô nhị" về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc.
Bộ Cửu vị thần công
Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc năm Gia Long thứ hai (1803). Chín khẩu thần công được đánh giá là một trong những tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao. Cửu vị thần công xưa được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Đến đời vua Khải Định, chúng được dời ra tại vị trí như ngày nay.
Mỗi khẩu dài 5,1 m và nặng khoảng 17.000 cân. Phía dưới các khẩu thần công là giá súng và bệ súng cũng được chạm trổ cực kỳ công phu và tỉ mỉ. Tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông và ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ được dùng để đặt tên cho 9 khẩu súng.
 
Thân súng đều chạm trổ tỉ mỉ, khắc danh hiệu, vị thứ, trọng lượng, cách dùng súng, bài ký về việc tranh chấp với Tây Sơn cùng việc thu đồng đúc súng.
 
Tất cả chín khẩu đều được phong "Thần Oai vô địch thượng tướng quân". Phong vị và nội dung bài sắc phong đều được khắc trực tiếp trên thân thần công.
 
Vị trí
Chín cỗ súng thuở trước được đặt ở lũy ngoài Kinh thành, lui về phía trái Ngọ Môn. Sang đầu thế kỷ 20 thì chúng được chuyển vào bên trong, xếp thành hai nhóm. Nhóm bên tả xếp phía sau cửa Thể Nhơn gồm 4 khẩu, được đặt tên theo 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông; nhóm bên hữu xếp phía sau cửa Quảng Đức gồm 5 khẩu, được đặt tên theo ngũ hành: Kim - Mộc - Thuỷ - Hỏa - Thổ.
 
Trọng lượng của các khẩu thần công
 
Bốn khẩu có tên Xuân, Hạ, Thu, Đông
 
Năm khẩu trong Cửu vị thần công có tên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ
Trọng lượng "Cửu vị thần công" được tính theo cân - theo Hệ đo lường cổ của Việt Nam, trọng lượng được cân trong khi làm và được khắc trực tiếp trên thân súng.
 
Súng thứ 1: Xuân, nặng 17.700 cân
Súng thứ 2: Hạ, nặng 17.200 cân
Súng thứ 3: Thu, nặng 18.400 cân
Súng thứ 4: Ðông, nặng 17.800 cân
Súng thứ 5: Mộc, nặng 17.000 cân
Súng thứ 6: Hoả, nặng 17.200 cân
Súng thứ 7: Thổ, nặng 18.800 cân
Súng thứ 8: Kim, nặng 17.600 cân
Súng thứ 9: Thủy, nặng 17.200 cân
 
Bộ Cửu Đỉnh
Bộ Cửu đỉnh (thời Nguyễn) gồm chín cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế. Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa Đông năm 1835 và khánh thành ngày 1/3/1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn. Trên mỗi đỉnh có chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí,... tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.
 
Pháo cao xạ 37mm M1939 (61-K) (súng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không - Không quân)
Pháo phòng không 37mm do Liên Xô sản xuất, trang bị cho Khẩu đội 3, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367, tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, được Anh hùng Tô Vĩnh Diện hy sinh thân mình để bảo vệ. Khẩu pháo này cùng với Đại đội 827 bắn hạ 3 máy bay Pháp tại Điện Biên Phủ.
 
Máy bay MiG-21F96, số hiệu 5121 (máy bay chiến đấu của Không quân nhân dân Việt Nam trong trận "Điện Biên Phủ trên không", hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam)
 
Sổ trực ban "Chiến dịch Hồ Chí Minh" (sổ trực ban chép tay tình hình chiến sự Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 25/4 - 1/5/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Quân khu 7)
 
Xe tăng T-54B, số hiệu 843 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam)
 
Xe tăng T-59, số hiệu 390 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tăng thiết giáp)
 
Dưới đây là danh sách các bảo vật quốc gia của Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký quyết định công nhận đợt 2
1. Trống đồng Đền Hùng (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
 
2. Trống đồng Cẩm Giang I (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa)
 
3. Mộ thuyền Việt Khê (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
4. Thạp đồng Hợp Minh (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Yên Bái)
5. Bộ khóa đai lưng bằng đồng (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
6. Kiếm ngắn Núi Nưa (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa)
7. Bia “Xá Lợi Tháp Minh” (Niên đại: năm 601, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh)
 
8. Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang)
 
9. Bia Sùng Thiện Diên Linh (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam)
10. Bia chùa Sùng Khánh (thời Trần, hiện lưu giữ tại chùa Sùng Khánh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang)
 
11. Bia Vĩnh Lăng Lam Kinh (thời Lê, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)
12. Chuông chùa Bình Lâm (thời Trần, hiện lưu giữ tại chùa Bình Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang)
13. Chuông chùa Vân Bản (thời Trần, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
14. Đại hồng chung chùa Thiên Mụ (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại chùa Thiên Mụ, TP.Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế)
15. Rồng đá (Xà thần) (thời Lý, hiện lưu giữ tại đền thờ Lê Văn Thịnh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)
 
16. Tượng Phật A Di Đà (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Ngô Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định)
17. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
18. Ba pho tượng Tam Thế (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại chùa Linh Ứng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)
 
19. Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
 
20. Bộ chân đèn và lư hương gốm men (thời Mạc, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Nam Định)
 
21. Vạc đồng (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa)
22. Súng thần công (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh)
 
23. Bia Võ Cạnh (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
 
24. Tượng Avalokitesvara Hoài Nhơn (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
25. Tượng Avalokitesvara Đại Hữu (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
26. Tượng động vật Dốc Chùa (Văn hóa Đồng Nai, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bình Dương)
 
27. Tượng Phật Bình Hòa (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
 
28. Tượng Phật Sa Đéc (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
 
29. Tượng Thần Visnu (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp)
 
30. Tượng Thần Visnu (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Long An)
 
31. Tượng Nữ Thần Durga (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
 
32. Tượng Avalokitesvara (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM)
 
33. Bộ sưu tập hiện vật vàng (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Long An)
 
34. Tranh “Vườn Xuân Trung Nam Bắc” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM)
35. Tranh “Hai thiếu nữ và em bé” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Tô Ngọc Vân, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).
 
36. Tranh “Em Thúy” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Trần Văn Cẩn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
 
37. Tranh “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Nguyễn Sáng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
 
Ngày đăng: 23/11/2014
Lượt xem: 0
Top

Hỗ trợ trực tuyến

Liên hệ:

Mr Dung

Ms Phuong

Ms Ly

Danh mục bài viết

Quý khách có thể trực tiếp liên lạc tại phòng vé