Đặt vé tại Sài Gòn 0934 476 522
Đặt vé tại Hà Nội 0903.295392
Liên hệ đặt vé toàn quốc 0979 765 119

Tìm hiểu văn hóa - lịch sử Phú Yên qua những di tích.

Thành Hồ

 

Thành Hồ được xây dựng bên bờ phía Bắc sông Đà Rằng, với cấu trúc hình tứ giác. Hiện trạng, bờ thành phía Đông dài 785 mét, phía Bắc dài 742 mét, phía Nam bị sông xói lở chỉ còn lại 250 mét, phía Tây dựa vào núi Hòn Mốc. Các bờ thành cao từ 3 - 5 m, chân bờ thành rộng từ 20 - 30 m. Qua khai quật khảo cổ đã phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc và hiện vật. Các hố khai quật hiện được bảo vệ nguyên trạng để phục vụ khách tham quan, nghiên cứu. Thành Hồ được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích khảo cổ Quốc gia năm 2005.

 

Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh

 

 Lương Văn Chánh là người Bắc Hà, dưới triều vua Lê Thế Tông được phong chức Thiên Vũ vệ Đô chỉ huy sứ. Năm Mậu Dần - 1578, Lương Văn Chánh được chúa Nguyễn Hoàng cử vào ổn định vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Nhờ có công lớn, ông được thăng chức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, sau làm Trấn Biên quan

Sau đó ông chiêu tập lưu dân vùng Thanh - Nghệ, Thuận Hoá và các nơi khác đến khai phá đất hoang, kết lập gia cư, làng mạc ở vùng Cù Mông, Bà Đài và dọc theo sông Đà Rằng. Ông đem kinh nghiệm khẩn hoang vào áp dụng ở Phú Yên, cùng với người dân làm cho vùng đất này trở nên trù phú, làng xóm dần được hình thành. Đây là cơ sở để chúa Nguyễn lập ra phủ Phú Yên vào năm 1611.

Ông Lương Văn Chánh qua đời ngày 19 tháng Chín năm Tân Hợi 1611. Mộ Lương Văn Chánh nằm trên một gò cao, quay mặt ra phía sông Bến Lội, hướng về núi Chóp Chài. Đền thờ Lương Văn Chánh nằm ở địa hình thông thoáng, phía trước là sông Bến Lội, phía sau là núi Cấm.

Để tưởng nhớ người có công lao to lớn đối với vùng đất Phú Yên, vào ngày mùng 6 tháng Hai và ngày 19 tháng Chín âm lịch hàng năm, Phú Yên tổ chức Lễ hội Đền thờ Lương Văn Chánh với sự tham gia của đông đảo nhân dân và thu hút nhiều du khách đến tham quan tìm hiểu

 

Mộ và đền thờ Lê Thành Phương

 

 Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Mỹ Phú, xã An Hiệp, huyện Tuy An). Năm 1885, hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông cùng một số sĩ phu yêu nước ở Phú Yên tập hợp nghĩa quân, dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Ông được vua Hàm Nghi phong làm "Thống soái Quân vụ Đại thần".

Trong 2 năm 1885 -1886, nghĩa quân của Lê Thành Phương đã đánh nhiều trận và làm chủ một vùng rộng lớn từ Phú Yên đến Bình Thuận. Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Cần Vương Phú Yên, tháng 2/1887, thực dân Pháp dồn lực lượng ra đàn áp cuộc khởi nghĩa. Ngày 14/02/1887, Lê Thành Phương bị địch bắt và giam tại nhà lao An Thổ. Chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông khảng khái trả lời với câu nói bất hủ: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục“ (nghĩa là : Thà chết chứ không chịu sống nhục).

Ngày 20/02/1887 (tức 28 tháng Giêng, năm Đinh Hợi -1887), Lê Thành Phương bị địch xử tử tại bến đò Cây Dừa (nay thuộc xã An Dân- H. Tuy An). Mộ Lê Thành Phương đặt trên núi Đá Trắng, gần đèo Quán Cau, đã được trùng tu khá khang trang. Đền thờ Lê Thành Phương được xây dựng dưới chân núi Đá Chồng.

Ngày 27/9/1996, Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận di tích Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Hàng năm, vào ngày giỗ của ông (28 tháng Giêng âm lịch), nhân dân địa phương tổ chức Lễ hội Đền Lê Thành Phương thu hút hàng ngàn khách phương xa đến tham quan, tìm hiểu.

 

Tháp Nhạn

 

Núi Nhạn nằm bên bờ Bắc sông Đà Rằng, thuộc địa phận phường I, thành phố Tuy Hòa. Đứng ở độ cao 64 m trên đỉnh Núi Nhạn, du khách có thể ngắm nhìn vẻ đẹp toàn cảnh Tuy Hoà nằm bên bờ biển Đông và dòng sông Đà Rằng với 4 cây cầu đường sắt và đường bộ chạy song song qua sông.

Trên đỉnh Núi Nhạn có ngôi tháp Chăm cổ kính, có tên gọi là Tháp Nhạn, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XI. Đây là một trong những ngôi tháp vào loại lớn của người Chăm. Tháp có cấu trúc bình đồ vuông, mỗi cạnh 10m, chiều cao 23,5 m, gồm 3 phần chính: đế, thân và mái. Cửa tháp quay về hướng Đông.

Ngày nay, thắng cảnh Núi Nhạn - Sông Đà Rằng được xem như là biểu tượng của Phú Yên. Tháp Nhạn cũng đã được công nhận là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia.

 

Địa đạo Gò Thì Thùng

 

ò Thì Thùng thuộc thôn Xuân Thành, xã An Xuân, nằm cạnh ranh giới 3 huyện: Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa; cách TP.Tuy Hoà khoảng 45km về phía Bắc

Địa đạo gò Thì Thùng có chiều dài 1.948m với các hệ thống hầm chỉ huy, hầm chứa lương thực, vũ khí, nước uống dự trữ có thể chống được đạn pháo và bom loại nhỏ.

Địa đạo Gò Thì Thùng của Phú Yên đã góp phần làm thất bại cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ năm 1966.
Di tích lịch sử Địa đạo Gò Thì Thùng và hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng (Ngày 9 tháng giêng Âm lịch) sẽ trở thành một trong những điểm đến của du khách trong dịp kỷ niệm 400 năm Phú Yên và Năm du lịch quốc gia 2011.

 

Đường số 5

 

Đường số 5 (nay gọi là Quốc lộ 29), con đường liên tỉnh Phú Yên- Đắc Lắc, chạy theo trục Đông - Tây, nối quốc lộ 1A với Quốc lộ 14, đoạn qua tỉnh Phú Yên dài trên 40 km.

Sau khi quân giải phóng làm chủ Buôn Ma Thuột, ngày 15/3/1975, Quân đoàn 2 của ngụy quyền Sài Gòn buộc phải rời bỏ Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 (nay là Quốc lộ 25) xuống Phú Yên. Nhận Chỉ thị của Khu uỷ Khu 5, quân và dân Phú Yên đã chặn đánh quyết liệt trong 7 ngày đêm và lập nên chiến công to lớn trên đường số 5.Chiến thắng Đường số 5 ở Phú Yên đã góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Đường số 5 là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

 

Đập Đồng Cam

 

Đập Đồng Cam trước năm 1945 còn có tên là đê Bảo Đại, là một công trình thủy lợi lớn trên sông Ba do người Pháp thiết kế và chỉ huy xây dựng. Công trình này được khởi công vào năm 1924, đến năm 1930 hoàn thành đập chính, và đến năm 1932 thì hoàn thành toàn bộ hệ thống dẫn thủy nhập điền để phục vụ nước tưới cho 20.000ha (hiện nay đã mở rộng hơn 31.000ha) ruộng lúa ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Ba.

 Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt thủy lợi, đập Đồng Cam còn là một di sản văn hóa kết tinh công sức và trí tuệ của lớp người đi trước. Việc xác định vị trí xây dựng, thiết kế công trình, việc tính toán chuẩn xác cho từng hạng mục công trình, sức bền vượt thời gian của công trình, đặc biệt là quá trình thi công hoàn thành công trình chủ yếu bằng sức người trong thời điểm chưa có nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ là điều khiến thế hệ hôm nay hết sức trân trọng.

Đập Đồng Cam gắn với cảnh quan đôi bờ và địa hình lòng sông tạo nên một vùng thắng tích kỳ thú. Vẻ đẹp của thiên nhiên núi non sông nước gắn với công trình kỳ vĩ do con người tạo ra đã tô điểm lẫn nhau tạo nên sức hấp dẫn của cảnh quan nơi đây và để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với du khách thưởng ngoạn. Từ lâu, ngày mùng 8 tháng Giêng hằng năm đã trở thành ngày hội đập Đồng Cam. Vào ngày này, đông đảo nhân dân nhất là nam nữ thanh niên gần xa tụ hội về đây để thắp hương tưởng niệm những người đã mất khi xây dựng đập, đồng thời cũng là dịp du ngoạn đầu xuân.

 

Hành cung Long Bình

 

Hành cung Long Bình thuộc địa bàn khu phố Long Bình Đông, phường Xuân Phú, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết vào năm 1899 trung tâm lỵ sở của chính quyền phong kiến tỉnh Phú Yên được chuyển từ An Thổ, Tuy An ra đóng tại Long Bình, Sông Cầu. Hành cung là công trình kiến trúc nằm trong thành Long Bình. Như vậy, hành cung chỉ có thể được xây dựng trước hoặc sau mốc thời gian năm 1899 không lâu, nên có thể xác định niên đại của công trình này là trên 100 năm cách ngày nay. Hành cung Long Bình được chính quyền phong kiến cho xây dựng và sử dụng trong thời gian từ những năm đầu của thế kỷ XX đến trước năm 1945 dưới thời các vua Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại (1926-1945).

 

Chùa Từ Quang

 

 Chùa Từ Quang (Chùa Đá Trắng) ở thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, cách TP. Tuy Hoà khoảng 35 km về phía Bắc. Chùa nằm trên một triền núi có nhiều tảng đá trắng nên còn được gọi là chùa Đá Trắng.

Chùa dựa lưng vào dãy núi Xuân Đài hướng về phía Nam, nhìn ra con sông Cái, có độ cao gần 100 m so với mặt nước biển.

Chùa được xây dựng từ năm 1797 (Đinh Tỵ) dưới triều vua Quang Toản nhà Tây Sơn, lúc đầu làm bằng tranh tre, mái lá. Năm 1889, chùa được vua ban sắc tứ. Năm 1988, chánh điện được xây dựng lại như hiện nay. Phía Tây là khu mộ tháp các vị hoà thượng khai sơn và trụ trì ở chùa Từ Quang. Khởi thuỷ là Hoà Thượng Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 36.

Đặc biệt, trong chùa có quả Đại hồng chung nặng 330 kg do Hoà thượng Pháp Ngũ đúc tại kinh đô Phú Xuân. Xung quanh chùa là vườn xoài rất nổi tiếng, “Xoài Đá Trắng, sắn Phường Lụa”. Dưới triều nhà Nguyễn, xoài Đá Trắng được tiến vua, nên có tên là “Xoài Ngự”, “Xoài Tiến” và được mang hiệu là “Bạch Thạch Yêm Ba”.

Chùa Từ Quang được công nhận là Di tích lịch sử - nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1997. Vào ngày mùng mười tháng Giêng Âm lịch hằng năm, nơi đây tổ chức hội chùa thu hút đông đảo tăng ni phật tử và du khách gần xa.
 

Ngày đăng: 14/09/2014
Lượt xem: 0
Top

Hỗ trợ trực tuyến

Liên hệ:

Mr Dung
0979765119



Danh mục bài viết

Quý khách có thể trực tiếp liên lạc tại phòng vé